Trước hết, cần làm rõ “doanh nghiệp” và “hộ kinh doanh” là gì.
Về khái niệm, hiện nay pháp luật chưa đưa ra một định nghĩa chính thức về hộ kinh doanh. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 82 Nghị định 168/2025/NĐ-CP quy định: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Trường hợp hộ kinh doanh do các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập thì các thành viên ủy quyền bằng văn bản cho một thành viên làm người đại diện hộ kinh doanh trong quá trình hoạt động kinh doanh. Văn bản ủy quyền của các thành viên hộ gia đình cho một thành viên làm người đại diện hộ kinh doanh phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.”
Trong khi đó, căn cứ khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp được hiểu là “tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Ngoài ra, theo quy định hiện hành của Luật Doanh nghiệp 2020, Việt Nam có 4 loại hình doanh nghiệp cơ bản, bao gồm: Công ty cổ phần, công ty TNHH một thành viên; công ty TNHH hai thành viên trở lên; công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.
Như vậy, có thể thấy hộ kinh doanh không được pháp luật xác định là một loại hình doanh nghiệp. Điều này cũng thể hiện rõ khi xem xét cách cấp mã số thuế cho hai chủ thể này. Cụ thể, theo điểm e khoản 3 Điều 30 Luật Quản lý thuế 2019, mã số thuế cấp cho hộ kinh doanh là mã số thuế của cá nhân người đại diện hộ kinh doanh. Nói cách khác, mã số thuế của hộ kinh doanh gắn với cá nhân chủ hộ.
Trong khi đó, theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 8 Nghị định 168/2025/NĐ-CP thì mỗi doanh nghiệp được cấp một mã số duy nhất gọi là mã số doanh nghiệp, mã số này đồng thời là mã số thuế của doanh nghiệp và tồn tại trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp và không được cấp lại cho tổ chức, cá nhân khác. Khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động thì mã số doanh nghiệp chấm dứt hiệu lực.
Từ các quy định trên có thể thấy rằng hộ kinh doanh và doanh nghiệp là hai mô hình kinh doanh khác nhau, được điều chỉnh bởi những quy định pháp luật khác nhau và có những đặc điểm nhận diện riêng.
Vậy, “chuyển đổi loại hình doanh nghiệp” là gì?
Hiện nay, pháp luật chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể về hoạt động chuyển đổi loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo khoản 31 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp được xem là một hình thức tổ chức lại doanh nghiệp, bao gồm:
- Chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần
- Chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
- Chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
- Chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hoặc công ty hợp danh.
Từ các quy định này có thể hiểu rằng chuyển đổi loại hình doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp đang tồn tại thay đổi sang một loại hình doanh nghiệp khác theo quy định của pháp luật, nhưng vẫn trên cơ sở chủ thể ban đầu là doanh nghiệp.
Vì hộ kinh doanh không phải là một loại hình doanh nghiệp, nên việc chuyển từ hộ kinh doanh sang loại hình công ty bất kỳ, về mặt pháp lý không được xem là “chuyển đổi loại hình doanh nghiệp”. Thay vào đó, đây thường được hiểu là chấm dứt hoạt động hộ kinh doanh và thực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp mới theo quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành. Vì vậy, khi thực hiện, chủ thể kinh doanh cần thực hiện các thủ tục pháp lý tương ứng theo quy định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp mới.
HTLaw
📧 Email: hue.truong@htlaw.vn
📞 US 🇺🇸Phone: (+1) 917 245 9663
📞 VN 🇻🇳Phone: (+84) 947 449 137
💬 WhatsApp/Zalo: (+84) 947 449 137