Vậy, giảm trừ gia cảnh là gì? Giảm trừ gia cảnh là khoản tiền được trừ ra khỏi thu nhập của cá nhân cư trú tại Việt Nam trước khi tính thuế thu nhập cá nhân, nhằm bảo đảm rằng phần thu nhập này không bị đánh thuế, từ đó giúp người nộp thuế giảm bớt áp lực tài chính trong đời sống hằng ngày. Về bản chất, chính sách giảm trừ gia cảnh phản ánh nguyên tắc công bằng trong lĩnh vực thuế, nhằm hỗ trợ các cá nhân có nghĩa vụ bảo đảm đời sống cho bản thân và những người phụ thuộc. Theo quy định, giảm trừ gia cảnh bao gồm hai nội dung: giảm trừ đối với bản thân người nộp thuế và giảm trừ đối với người phụ thuộc, như con, vợ hoặc chồng, cha mẹ và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật.
Theo quy định hiện hành, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 đã nâng mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế từ 11 triệu đồng lên 15,5 triệu đồng mỗi tháng, mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc từ 4,4 triệu đồng lên 6,2 triệu đồng mỗi tháng.
Cụ thể quy định tại Điều 10 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định:
“1. Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú. Giảm trừ gia cảnh gồm:
- a) Mức giảm trừ đối với người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm);
- b) Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.”
Theo quy định này, người được giảm trừ gia cảnh phải là người có tiền lương, tiền công. Điều này có nghĩa là, nếu bạn nhận thu nhập từ các nguồn khác như kinh doanh, cho thuê tài sản, đầu tư,… thì các khoản thu nhập này sẽ không được hưởng giảm trừ gia cảnh. Cách tiếp cận này cho thấy sự ưu tiên bảo vệ nhóm người làm công ăn lương, là những chủ thể có thu nhập ổn định nhưng phải đồng thời chịu áp lực lớn từ chi phí sinh hoạt hằng ngày và trách nhiệm nuôi dưỡng người phụ thuộc. Đối với các thu nhập khác, vì tính chất chủ động trong tạo lập và linh hoạt trong phân bổ, không được áp dụng điều khoản giảm trừ này. Như vậy, nếu cá nhân là cá nhân cư trú tại Việt Nam có thu nhập từ tiền lương, tiền công thì sẽ được giảm trừ 15,5 triệu đồng/tháng (tương đương với 186 triệu đồng/năm) trên thu nhập đó.
Đối với người phụ thuộc, pháp luật hiện hành không giới hạn số lượng người phụ thuộc được đăng ký giảm trừ, tức 01 cá nhân cư trú có thể đăng ký giảm trừ gia cảnh đối với nhiều người phụ thuộc, tuy nhiên 01 người phụ thuộc chỉ có thể được tính giảm trừ 01 lần vào 01 người nộp thuế trong năm tính thuế đó. Cụ thể, nếu cá nhân có người phụ thuộc các trường hợpquy định tại điểm d khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC thì sẽ được giảm trừ gia cảnh, bao gồm:
“d) Người phụ thuộc bao gồm:
d.1) Con: con đẻ, con nuôi hợp pháp, con ngoài giá thú, con riêng của vợ, con riêng của chồng, cụ thể gồm:
d.1.1) Con dưới 18 tuổi (tính đủ theo tháng).
d.1.2) Con từ 18 tuổi trở lên bị khuyết tật, không có khả năng lao động.
d.1.3) Con đang theo học tại Việt Nam hoặc nước ngoài tại bậc học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, kể cả con từ 18 tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông (tính cả trong thời gian chờ kết quả thi đại học từ tháng 6 đến tháng 9 năm lớp 12) không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.
d.2) Vợ hoặc chồng của người nộp thuế đáp ứng điều kiện tại điểm đ, khoản 1, Điều này.
d.3) Cha đẻ, mẹ đẻ; cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng); cha dượng, mẹ kế; cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp của người nộp thuế đáp ứng điều kiện tại điểm đ, khoản 1, Điều này.
d.4) Các cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế đang phải trực tiếp nuôi dưỡng và đáp ứng điều kiện tại điểm đ, khoản 1, Điều này bao gồm:
d.4.1) Anh ruột, chị ruột, em ruột của người nộp thuế.
d.4.2) Ông nội, bà nội; ông ngoại, bà ngoại; cô ruột, dì ruột, cậu ruột, chú ruột, bác ruột của người nộp thuế.
d.4.3) Cháu ruột của người nộp thuế bao gồm: con của anh ruột, chị ruột, em ruột.
d.4.4) Người phải trực tiếp nuôi dưỡng khác theo quy định của pháp luật.”
Các cá nhân được nêu trên chỉ được xem là người phụ thuộc nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
“đ) Cá nhân được tính là người phụ thuộc theo hướng dẫn tại các tiết d.2, d.3, d.4, điểm d, khoản 1, Điều này phải đáp ứng các điều kiện sau:
đ.1) Đối với người trong độ tuổi lao động phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
đ.1.1) Bị khuyết tật, không có khả năng lao động.
đ.1.2) Không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.
đ.2) Đối với người ngoài độ tuổi lao động phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.
- e) Người khuyết tật, không có khả năng lao động theo hướng dẫn tại tiết đ.1.1, điểm đ, khoản 1, Điều này là những người thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về người khuyết tật, người mắc bệnh không có khả năng lao động (như bệnh AIDS, ung thư, suy thận mãn,…).”
Như vậy, người phụ thuộc của cá nhân cư trú tại Việt Nam bao gồm con, vợ hoặc chồng, cha hoặc mẹ và các cá nhân khác theo quy định tại các khoản trên với điều kiện đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về độ tuổi, khả năng lao động và mức thu nhập.
Trường hợp nếu người phụ thuộc nằm trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên) nhưng bị khuyết tật, không có khả năng lao động và không có thu nhập hoặc thu nhập bình quân không quá 1 triệu đồng/tháng thì sẽ được giảm trừ gia cảnh. Nếu người phụ thuộc ngoài độ tuổi lao động (từ dưới 15 tuổi hoặc nằm trong độ tuổi nghỉ hưu theo quy định hiện hành của Nhà nước) thì phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân không quá 1 triệu đồng/tháng thì sẽ được giảm trừ gia cảnh.
Do đó, nếu cá nhân cư trú thuộc đối tượng được áp dụng giảm trừ gia cảnh và đồng thời có người phụ thuộc đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật, thì cá nhân đó sẽ được hưởng giảm trừ gia cảnh đối với cả bản thân và người phụ thuộc khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.
Từ những phân tích trên có thể thấy, việc điều chỉnh tăng mức giảm trừ gia cảnh từ năm 2026 mang ý nghĩa thực tiễn rõ nét đối với người nộp thuế, đặc biệt là nhóm người lao động có thu nhập thấp và trung bình. Chính sách này giúp giảm đáng kể, thậm chí triệt tiêu nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân trong nhiều trường hợp, qua đó bảo đảm rằng thu nhập ở mức đủ dùng để trang trải nhu cầu sinh hoạt cơ bản hằng ngày không bị đánh thuế. Đối với người lao động có thu nhập trung bình khá hoặc có người phụ thuộc, mức giảm trừ gia cảnh mới góp phần làm giảm mạnh số thuế phải nộp, tạo điều kiện nâng cao thu nhập thực tế và cải thiện chất lượng đời sống. Nhìn chung, việc tăng mức giảm trừ gia cảnh không chỉ thể hiện vai trò điều tiết của thuế thu nhập cá nhân theo hướng công bằng, hợp lý, mà còn khẳng định chức năng an sinh xã hội của chính sách thuế trong bối cảnh chi phí sinh hoạt ngày càng gia tăng.