- Về định nghĩa di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp
Căn cứ theo điểm b khoản 13 Điều 7 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP định nghĩa:
“Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp: Di chuyển có thời hạn trong nội bộ doanh nghiệp nước ngoài đã thành lập hiện diện thương mại trên lãnh thổ Việt Nam thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ theo biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với tổ chức thương mại thế giới và đã được doanh nghiệp nước ngoài tuyển dụng trước đó ít nhất 12 tháng liên tục. Hiện diện thương mại bao gồm tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam; văn phòng điều hành của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng hợp tác kinh doanh.”
- Về quy định người lao động nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp có thuộc diện phải cấp giấy phép lao động hay không?
Hình thức “Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp” thuộc một trong các trường hợp Người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động (Điều 7 Nghị định 219/2025/NĐ-CP).
“Điều 7. Người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động
1…
Người lao động nước ngoài là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Vào Việt Nam làm việc có tổng thời gian dưới 90 ngày trong 01 năm, tính từ 01 tháng 01 đến ngày cuối cùng của năm;
b) Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp.”
3. Về quan hệ lao động, hợp đồng lao động, tiền lương
Căn cứ theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Của Bộ luật Lao động số 45/2019/ QH14:
“Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động các nhân và quan hệ lao động tập thể”.
Bên cạnh đó theo khoản 1 Điều 13 của Bộ luật lao động số 45/2019/QH quy định:
“Hợp đồng lao đồng là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trường hợp hai bên thoả thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động”.
Đồng thời điểm đ, khoản 1 Điều 21 của Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 quy định một trong các nội dung chủ yếu của hợp động lao động là: “Mức lương theo công việc hoặc chức danh, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”.
Khoản 1 Điều 90 của Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 quy định: “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thoả thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”.
Đối chiếu với điểm a Khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 219/2025/NĐ-CP ngày 07/08/2025 của chính phủ quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam quy định về hình thức làm việc của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là thực hiện hợp đồng lao động. Đồng thời, khoản 2 Điều 22 của NĐ219/2025/NĐ-CP quy định: “Đối với người lao động nước ngoài theo quy định tại các điểm a (thực hiện hợp đồng lao động) và m khoản 1 Điều 2 Nghị định này, sau khi người lao động nước ngoài được cấp giấy phép lao động thì người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam trước ngày dự kiến làm việc.”
4. Về việc tham gia BHXH bắt buộc
Theo Điểm a, Khoản 2, Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 quy định về người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi:
“2. Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam, trừ các trường hợp sau đây:
- Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam;”
Do đó, từ các quy định nêu trên thì trường hợp người lao động nước ngoài làm việc theo hình thức “di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp” sẽ không thuộc diện cấp giấy phép lao động, cũng khôngký hợp đồng lao động tại Việt Nam, không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc và không thuộc trường hợp được nhận thanh toán tiền lương công ty tại Việt Nam.
Trường hợp người lao động nước ngoài ký hợp đồng lao động tại Việt Nam và được trả lương tại Việt Nam thì không phải là hình thức làm việc “di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp”.