Luật đầu tư hiện hành đã có sự điều chỉnh đáng kể trong cách tiếp cận đối với thủ tục Cấp giấy chứng nhận đầu tư của nhà đầu tư Việt Nam ra nước ngoài. Thay vì coi đây là thủ tục bắt buộc cho mọi dự án như trong giai đoạn pháp luật trước, nhà làm luật đã thiết lập một cơ chế quản lý theo hướng phân tầng, trong đó quy mô vốn đầu tư và tính chất của lĩnh vực đầu tư được xác định là những tiêu chí trung tâm để xác lập nghĩa vụ đăng ký cũng như thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trên cơ sở đó, pháp luật hiện hành đồng thời làm rõ vai trò và phạm vi thẩm quyền của Bộ Tài chính trong việc cấp, điều chỉnh và chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, cũng như cơ chế báo cáo, xin ý kiến chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ đối với các dự án có quy mô vốn lớn hoặc đề xuất áp dụng cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc biệt. Cách tiếp cận này không chỉ góp phần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài mà còn khắc phục những bất cập, thiếu thống nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật đầu tư thời gian qua.
Cụ thể theo Điều 42 Luật đầu tư 2025 quy định về việc Cấp, điều chỉnh, chấm dứt hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài
“1. Bộ Tài chính cấp, điều chỉnh, chấm dứt hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án có mức vốn đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Chính phủ hoặc dự án đầu tư có lĩnh vực thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 41 của Luật này. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Tài chính phân cấp thẩm quyền cấp, điều chỉnh, chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài cho tổ chức thuộc Bộ.
- Đối với dự án đầu tư ra nước ngoài có quy mô vốn lớn hoặc dự án đề xuất áp dụng cơ chế chính sách hỗ trợ đặc biệt, Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận trước khi cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.”
Khoản 1 xác lập thẩm quyền trực tiếp và mang tính nguyên tắc của Bộ Tài chính trong việc cấp, điều chỉnh và chấm dứt hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với hai nhóm dự án.
+ Thứ nhất, các dự án đầu tư ra nước ngoài có mức vốn đầu tư đạt ngưỡng theo quy định của Chính phủ. Việc Luật không ấn định cụ thể mức vốn mà giao cho Chính phủ quy định chi tiết thể hiện cách tiếp cận lập pháp linh hoạt, cho phép cơ quan hành pháp chủ động điều chỉnh ngưỡng quản lý phù hợp với điều kiện kinh tế – tài chính và định hướng chính sách đầu tư ra nước ngoài trong từng thời kỳ.
+ Thứ hai, các dự án đầu tư ra nước ngoài thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện theo khoản 1 Điều 41 của Luật. Đối với nhóm dự án này, dù quy mô vốn có thể không lớn, nhưng do tính chất nhạy cảm của lĩnh vực đầu tư, pháp luật vẫn đặt việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài dưới sự kiểm soát trực tiếp của Bộ Tài chính.
Khoản 2 thiết lập một tầng kiểm soát cao hơn đối với các dự án đầu tư ra nước ngoài có quy mô vốn lớn hoặc đề xuất áp dụng cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc biệt. Theo đó, trong các trường hợp này, Bộ Tài chính không được tự mình quyết định việc cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, mà có nghĩa vụ báo cáo Thủ tướng Chính phủ để xem xét, chấp thuận trước.Việc quy định để Thủ tướng Chính phủ “ xem xét, chấp thuận trước” cho thấy thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ mang tính định hướng và quyết định về mặt chủ trương, trong khi đó Bộ Tài chính vẫn là cơ quan trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính sau khi có ý kiến chấp thuận. Như vậy, cơ chế này vừa bảo đảm nguyên tắc tập trung quyền quyết định đối với các dự án có ảnh hưởng lớn, vừa duy trì vai trò chuyên môn của Bộ Tài chính trong quản lý đầu tư ra nước ngoài.
“3. Nhà đầu tư thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch ngoại hối theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối mà không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài trong các trường hợp sau đây:
Dự án đầu tư ra nước ngoài có mức vốn đầu tư ra nước ngoài nhỏ hơn mức quy định của Chính phủ và không thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 41 của Luật này;
Dự án đầu tư ra nước ngoài gắn với quốc phòng, an ninh triển khai theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước;
Dự án đầu tư ra nước ngoài của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tổ chức kinh tế khác theo quy định của Chính phủ.”
Quy định tại khoản 3 thể hiện một điểm đổi mới quan trọng trong Luật đầu tư và đây cũng là ngoại lệ đối với nghĩa vụ thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, theo đó trong một số trường hợp nhất định, nhà đầu tư chỉ phải thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch ngoại hối theo pháp luật về quản lý ngoại hối mà không phải xin cấp Giấy chứng nhận. Đối với các dự án có mức độ rủi ro thấp hoặc đã chịu sự kiểm soát đặc thù bằng các cơ chế pháp lý khác, việc yêu cầu thêm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài là không cần thiết và có thể làm gia tăng chi phí cho nhà đầu tư. Thay vì kiểm soát hoạt động đầu tư ra nước ngoài chủ yếu thông qua thủ tục hành chính đầu tư, Nhà nước chuyển hướng sang cơ chế quản lý dòng tiền đầu tư bằng công cụ quản lý ngoại hối. Sự chuyển dịch này cho phép Nhà nước vẫn theo dõi và kiểm soát hiệu quả dòng vốn đầu tư ra nước ngoài, đồng thời giảm bớt các thủ tục không cần thiết, qua đó nâng cao tính thuận lợi và hiệu quả của môi trường đầu tư.
Liên hệ với chúng tôi:
HTLaw
📧 Email: hue.truong@htlaw.vn
📞 US Phone: (+1) 917 245 9663
📞 VN Phone: (+84) 947 449 137
💬 WhatsApp/Zalo: (+84) 947 449 137